Nước ngầm ngày càng tệ

Nước ngầm đang diễn biến theo “chiều hướng suy giảm chất lượng là thực tế đáng lo ngại với hầu hết các công trình khai thác nước của các vùng trên toàn quốc”, nghiên cứu mới đây của Trung tâm Quy hoạch&Điều tra Tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên&Môi trường, cảnh báo.
Nhiều, chẳng được bao nhiêu

Trong số các lĩnh vực sử dụng nước ngầm (sinh hoạt, tưới, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ du lịch, và công nghiệp), nước ngầm dùng cho sinh hoạt chiếm tỷ lệ cực kỳ thấp, chỉ 2%. Đã thế, cái tỷ lệ nhỏ xíu ấy còn bị thu hẹp dần bởi chất lượng không đảm bảo.


Một lỗ khoan trúng mỏ nước ngầm tại một vùng khô cằn của tỉnh miền trung Quảng Bình năm 2010 bằng phương pháp của thầy địa lý Vũ Văn Bằng (Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên nước)

Tại vùng Cao Bằng - Quảng Ninh, một phần của vùng này tiếp xúc với biển nên nước đới ven biển thường bị mặn, đặc biệt trong các thành tạo carbonate ven biển. Các phần còn lại, nước mềm; hàm lượng sắt không lớn; hàm lượng các hợp chất nitơ (vốn rất có hại cho sức khỏe) nhỏ; thành phần vi trùng nhỏ.

Như vậy, trừ dải ven biển, phần lớn nước ở vùng này có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu sử dụng nước. Ai đó từng nói ở đâu nước ngon ở đó con gái có nước da trắng đẹp. Nhiều người hẳn ngạc nhiên khi thấy, ở vùng đất Quảng Ninh đen nhẻm bởi khai thác than, không ít nam thanh nữ tú da trắng ngần.

Vùng Hà Giang - Tuyên Quang, nước ngầm thuộc loại nước nhạt, theo thang phân loại của ngành khoa học về nước, nên hàm lượng một số nguyên tố vi lượng quá nhỏ, không có lợi cho ăn uống. Đấy là chưa kể một số nơi hàm lượng sắt khá cao. Vùng Lào Cai - Hoà Bình, nước ngầm thường có hàm lượng iod thấp, sử dụng dễ gây bệnh bướu cổ. Do các nguồn nước mặt ở vùng này có hàm lượng iod càng nhỏ hơn trong nước ngầm. Vì thế, nước ngầm ở đây vẫn là nguồn cung cấp chính cho bà con vùng này.

Ở Bắc Trung Bộ, đáng quan tâm nhất có lẽ là vùng đồng bằng và ven biển Thanh Hoá, chất lượng nước biến đổi phức tạp. Nước có hàm lượng sắt cao, hàm lượng các hợp chất có nguồn gốc hữu cơ cũng cao hơn ở miền trung du và miền núi.

Vùng ven biển Trung Bộ,  phần lớn gặp nước có độ tổng khoáng hoá cao nên khả năng cung cấp nước cho ăn uống sinh hoạt hạn chế. Vùng Đông Nam Bộđộ pH của nước ở Đông Nam Bộ nhìn chung thấp, nước có phản ứng axit yếu; nếu không có biện pháp xử lý để nâng cao độ pH của nước thì khó mà dùng cho ăn uống sinh hoạt được.
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, giống các đồng bằng khác, hàm lượng sắt trong nước cũng vượt quá giới hạn tiêu chuẩn quy định. Một số nơi có sự ảnh hưởng do xâm nhập của nước mặn vào các lỗ khoan khai thác nước.

Phức tạp hơn cả có lẽ là vùng đồng bằng Bắc BộBên cạnh các bất lợi mà vùng khác cũng có như pH một số nơi thấp, hàm lượng sắt cao, một số nơi ở phía nam nhiễm mặn, các thành phần vi nguyên tố đều nhỏ hơn giới hạn cho phép, tổng độ khoáng hóa có nơi thiếu có chỗ ở mạn nam lại quá thừa, v.v…, vùng này còn sở hữu nhiều bất lợi khác nữa.

Điển hình, ở các tỉnh thành  Hà Nội, Hải Phòng, và Nam Định, Hà Nam, v.v..., đã phát hiện các dấu hiệu nhiễm bẩn các hợp chất rất độc hại như nitơ (N), thủy ngân (Hg), và thạch tín (As). Tuy nhiên việc xác định chính xác nguyên nhân và cơ chế nhiễm bẩn “còn đang được nghiên cứu”, một quan chức của Trung tâm Quy hoạch&Điều tra Tài nguyên nướcho hay.

Tóm lại, toàn bộ lượng nước ngầm khai thác ở miền Bắc chủ yếu để cung cấp cho ăn uống. Do hàm lượng sắt trong nước cao nên hầu hết các công trình khai thác nước ngầm đều phải xử lý sắt rồi mới cấp cho ăn uống, khiến cho giá thành đội lên. Lượng nước khai thác và xử lý thì nhiều nhưng đưa vào sử dụng chỉ đạt 60-70%.

Phần còn lại là thất thoát. Tại các nhà máy nước ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, nước khai thác từ giếng thường được đưa thẳng vào đường ống, không qua xử lý, hoặc chỉ xử lý sơ bộ bằng các công nghệ truyền thống.


Đã có kế hoạch khai thác nước mặt sông Hồng làm nước sinh hoạt cho Hà Nội trong khi vẫn chưa có đủ trạm quan trắc chất lượng nước của con sông này

Biến dạng đất mặt

Khai thác nước ngầm thiếu nhạc trưởng nhiều năm qua khiến cho mặt đất không ít khu đô thị bị biến dạng, sụt lún. Nguy cơ này thực ra được dự báo từ khá lâu. Việc nghiên cứu sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm được nghiên cứu từ những năm 1988-1989 do Đoàn Địa chất 64, thuộc Liên đoàn 2 Địa chất Thủy văn, thực hiện. Trên cơ sở những đánh giá hiện tượng sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm tại TP. Hà Nội, mới có việc xây dựng một số trạm đo lún thời gian gần đây.

Tuy nhiên, nguyên nhân của hiện tượng lún nền đất tại nhiều đô thị không đơn thuần do khai thác nước ngầm quá mức. Tình hình các hố tử thần liên tiếp xuất hiện tại TP Hồ Chí Minh mới đây cho thấy nguyên nhân sụt lún là do một loạt hệ quả, chứ không riêng gì nước ngầm.

Vấn đề lớn nhất chính là sự bố trí các bãi giếng không hợp lý, dẫn đến hạ thấp mực nước cục bộ, tạo nên những phễu hạ thấp mực nước lớn. Nói riêng tại Hà Nội, một chuyên gia nhận định: “Các nhà xây dựng thường quan tâm đến lợi nhuận nhiều hơn khía cạnh bảo vệ tài nguyên nước ngầm bởi khai thác nước ngầm tốn quá ít tiền so với nước mặt ở Hà Nội”.

Hà Nội là đô thị có nhiều nhà máy cấp nước tập trung nhiều nhất trong số 64 tỉnh thành. Theo thống kê năm 2008 của Trung tâm Quy hoạch&Điều tra Tài nguyên nước, trong tổng số 108 nhà máy cấp nước nước ngầm tập trung quy mô lớn trên toàn quốc, TP Hồ Chí Minh chỉ có ba (Hóc Môn, Trạm Lê, và Bình Chánh), trong khi Hà Nội có 22.

Với riêng Hà Nội, ông đề nghị cần thiết phải ngừng hoạt động nhà máy nước Hạ Đình, giảm công suất của Mai Dịch, huỷ bỏ Pháp Vân và tăng công suất của Yên Phụ, Lương Yên, Cáo Đỉnh, đồng thời với việc hoàn tất bãi giếng Thượng Cát, xây dựng thêm bãi giếng Yên Mỹ và hành lang khai thác trên bãi giữa của sông Hồng.

“Nếu làm được như vậy thì chẳng cần đến nhà máy nước mặt tại Liên Mạc cũng như lo lắng vì sụt lún măt đất do khai thác”, nhà khoa học nhận định.

Còn thực tại thì, theo TS Nguyễn Thái Lai, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên&Môi trường, một nửa dân số đô thị đang thiếu nước, hoặc nói một cách hoa mỹ là “được thụ hưởng về dịch vụ nước”. Và bức tranh hiện thực là, so với chỉ tiêu của Hội Tài nguyên Nước Quốc tế (IWRA), Việt Nam đang rơi vào nhóm các quốc gia thiếu nước.

Trong khi tổng công suất hiện có của các nhà máy cấp nước đô thị có thể cấp nước sinh hoạt trung bình 150 lít/ngày/người, thực tế, dân đô thị chỉ được cấp 40-50 lít/người/ngày.
Nước ta có hơn 300 nhà máy và đơn vị cấp nước nhỏ. Tổng công suất thiết kế hơn 2 triệu m3/ngày, song mới chỉ khai thác được 60 -70% công suất thiết kế. Lượng nước khai thác, đi vào sử dụng từ nước ngầm mới đạt 35 - 50% tổng lượng nước tiêu dùng. Các công trình khai thác nước hầu hết là các lỗ khoan. Các lỗ khoan ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên hầu hết sâu dưới 100 m. Các lỗ khoan ở đồng bằng sông Cửu Long có độ sâu lớn hơn, trên 300 m.
Theo Quốc Dũng/TP

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Download Microsoft Office 2010 Portable Không Cần Cài Đặt

Danh bạ website