Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, điều này đã, đang và sẽ vẫn đúng trong bất kỳ hình thái kinh tế nào. Tuy nhiên, các sự kiện diễn ra gần đây liên quan đến Starbuck hay Vedan đang tạo ra áp lực và động cơ đòi hỏi doanh nghiệp phải có một cách nhìn mới - tổng thể và dài hạn hơn về mục đích kinh doanh. Câu hỏi đang được đặt ra cho các doanh nghiệp và doanh nhân là: kinh doanh để làm giàu cho bản thân hay để thực hiện sứ mệnh phụng sự xã hội.

Xem bài viết này đăng tải trên Tạp chí Hàng Hải (tháng 9/2009).

Chu
 Quang Khởi
Giám đốc đào tạo
Công ty APAVE Việt Nam & Đông Nam Á


Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Khái niệm này có vẻ mới lạ nhưng thực ra các hoạt động vì trách nhiệm xã hội đã được các doanh nhân thực hiện từ lâu. Ngay trong lịch sử Việt Nam, các doanh nhân như Lương Văn Can, Trịnh Văn Bô đã từng lấy mục đích phụng sự xã hội làm đạo lý cho các hoạt động kinh doanh của mình. Trên thế giới, các doanh nhân như Bill Gates, các chính trị gia như Bill Clinton cũng đang nỗ lực thực hiện trách nhiệm xã hội. Người ta cũng đã thể chế hóa khái niệm và hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và áp dụng các bộ tiêu chuẩn như: SA8000 (Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội);  WRAP (Trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc); ISO 14001 (Hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp; hay FSC (Hệ thống tiêu chuẩn bảo vệ rừng bền vững.)

Một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội thông qua các hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, an sinh cho cộng đồng”. Theo định nghĩa này, trách nhiệm xã hội có phạm vi rộng, đa dạng hóa về hình thức: từ việc tuân thủ pháp luật đến việc tôn trọng các cam kết với đối tác, khách hàng hay việc tuân thủ những ưu tiên trong hành động để bảo tồn và phát triển cộng đồng.

Tại sao doanh nghiệp nên thực hiện trách nhiệm xã hội?
Doanh nghiệp là một tác nhân trong xã hội, sử dụng nguồn lực xã hội và cần có trách nhiệm với xã hội. Đó là điều mọi người có thể chấp nhận một cách tương đối thụ động. Tuy nhiên, cũng có những lợi ích dành cho doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội trên các phương diện động lực làm việc, hoạt động truyền thông, thương hiệu doanh nghiệp.

Trách nhiệm xã hội và động cơ làm việc của người lao động
: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu và động cơ của người lao động cũng có sự thay đổi tương ứng. Nhiều người lao động không còn đặt mục tiêu kiếm tiền lên hàng đầu khi lựa chọn chỗ làm việc. Đối với họ, cảm giác được ghi nhận và sống có ích, có động lực cao hơn nhiều so với việc đếm tiền lương vào cuối tháng. Hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho họ suy nghĩ rằng họ không phải vất vả để làm giàu cho ông chủ mà công việc của họ đang tạo ra giá trị và ý nghĩa cho xã hội. Chính sự thay đổi trong động cơ làm việc đã dẫn đường cho khoa học quản lý đi từ Quản lý hoạt động (MBA) sang Quản lý quy trình (MBP) sang Quản lý mục tiêu (MBO) và sang Quản lý giá trị (MBV).

Trách nhiệm xã hội và hoạt động truyền thông
: Sứ mệnh của các nhà truyền thông là truyền bá các tin mới, có ích, những cách làm độc đáo và hiệu quả đối với sự phát triển của xã hội. Chương trình trách nhiệm xã hội với ý tưởng mới, có ích cho cộng đồng sẽ tự động thu hút sự tham gia của các phương tiện truyền thông. Vì vậy, thông qua trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp đã tận dụng được sự trợ giúp của bên thứ ba khách quan để đưa thông điệp tới các nhóm công chúng trong xã hội. Ở điểm này, doanh nghiệp ít nhiều vay mượn cách làm của các nhà truyền giáo.

Trách nhiệm xã hội và thương hiệu
: Người viết bài này còn nhớ sự kiện khi tập đoàn Siemens sang giới thiệu dòng sản phẩm mới tại Việt Nam. Họ đã được vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt khi đưa ra các sản phẩm với công nghệ thân thiện với môi trường, các sản phẩm này được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, tận dụng nguồn năng lượng thiên nhiên và hạn chế tối đa tổn hại cho môi trường. Trong bối cảnh toàn thế giới đang lo ngại về tác động tiêu cực đối với môi trường sống thì ý tưởng này tác động vào tâm thức của người tiêu dùng và họ thể hiện bằng hành động cụ thể - mua hàng. Doanh nghiệp có chương trình trách nhiệm xã hội cũng có độ hấp dẫn với đối tác, nhà cung cấp vì tầm nhìn dài hạn và cam kết nằm ngay trong chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nói cách khác, thông qua hoạt động trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp tạo dựng được uy tín và sự thiện cảm đối với nhiều nhóm công chúng.

Doanh nghiệp gặp khó khăn gì trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội?
Khó khăn xuyên suốt là sự khan hiếm về nguồn lực, doanh nghiệp thường phải tìm câu trả lời cho các vấn đề sau:

Xác định ưu tiên
: Trong điều kiện bình thường, một doanh nghiệp có thể không cần tính toán nhiều khi thực hiện chương trình trách nhiệm xã hội. Tuy vậy, trong những tình huống hạn hẹp về nguồn lực, đặc biệt là trong ngắn hạn thì câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp nên ưu tiên để tồn tại trước hay ưu tiên dành nguồn lực cho xã hội trước. Nhiều doanh nghiệp có tâm vẫn phải đứng nhìn những chương trình trách nhiệm xã hội được thực hiện nửa vời.

Tập trung hay phân tán
: Một nghịch lý khác là nếu doanh nghiệp không tập trung làm chương trình với quy mô đủ lớn trong một thời gian ngắn thì hiệu quả sẽ không nhiều, thậm chí bị vô hiệu hóa. Ở thái cực khác, nếu làm tập trung trong thời gian ngắn thì sẽ không còn nguồn lực để bảo trì hoạt động trách nhiệm xã hội. Hiện tượng đầu voi đuôi chuột trong các chương trình trách nhiệm xã hội cũng không phải là hiếm tại nhiều doanh nghiệp.

Tiêu chí đo lường kết quả
: Khác với các kết quả trong lĩnh vực tự nhiên, kết quả chương trình trách nhiệm xã hội thường là vô hình và không dễ đo, đếm. Một chương trình trách nhiệm xã hội đáp ứng tiêu chí thế nào thì được coi là thành công đang là một câu hỏi mở và sẽ vẫn tiếp tục là câu hỏi khó trả lời. Thông thường doanh nghiệp dựa vào những tiêu chí định lượng như số bài viết về chương trình, số người biết đến sự hiện diện của thương hiệu doanh nghiệp ... nhưng những tiêu chí này còn quá ít ỏi và không thể là thước đo đại diện cho toàn bộ những tác động tích cực và tác động không mong muốn của chương trình.

Năng lực quản trị dự án
: Chương trình trách nhiệm xã hội thường được thực hiện theo hình thức một hoặc nhiều dự án. Bản chất của các dự án trách nhiệm xã hội lại có nhiều bên liên quan, với những động cơ khác nhau. Vì vậy, năng lực quản trị dự án là một đòi hỏi cấp thiết để đảm bảo mục tiêu và hiệu quả của chương trình trách nhiệm xã hội. Trong quản trị dự án, việc phân tích các bên liên quan, xác nhận động cơ, xây dựng chiến lược thu hút sự tham gia cũng như tạo ra tính sở hữu của đối tượng tiếp nhận ở cộng đồng là một yếu tố quan trọng quyết định thành công của chương trình.

Tính bền vững
: Câu hỏi quan trọng đặt ra là khi kết thúc một dự án trách nhiệm xã hội thì việc duy trì những kết quả dự án đã thực hiện có được tiếp nối hay không? Rất nhiều dự án hoạt động tốt trong thời gian có nhà tài trợ nhưng sau đó nhanh chóng đi vào quên lãng ngay sau khi dự án kết thúc. Câu hỏi đặt ra là cơ chế nào đảm bảo sự duy trì các kết quả và tác động dự án trách nhiệm xã hội để các kết quả đó còn tiếp tục phát huy tác dụng phục vụ cho nhu cầu xã hội của cộng đồng.

Thiết kế và triển khai dự án trách nhiệm xã hội như thế nào?
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đòi hỏi phải có tài chính, tuy nhiên, yếu tố quan trọng hơn lại là ý tưởng và thiết kế dự án. Một ý tưởng tốt hay một sáng kiến đáp ứng tiêu chí SMART (Specific; Measurable; Achievable; Realistic; và Time bound) phải thực sự là một giải pháp gỡ nút cho vấn đề của cộng đồng. Ở đây, cần lưu ý định luật Pareto, 20% nỗ lực sẽ tạo xung lực cho 80% nỗ lực khác còn thiếu. Cụ thể, cùng một chương trình hỗ trợ phát triển cộng đồng, việc lựa chọn đúng nhóm đối tượng trọng điểm, xác định đúng nhu cầu thiết yếu nhất (nút thắt) của họ để can thiệp, cách tiếp cận tổng thể nhưng thích ứng với nhu cầu của địa phương sẽ là 20% nỗ lực của dự án trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Chiến lược thực hiện dự án trách nhiệm xã hội cần linh hoạt nhưng đảm bảo một nguyên tắc quan trọng là cân bằng lợi ích xã hội và doanh nghiệp. Các nhu cầu của cộng đồng như phát triển giáo dục, tạo công ăn việc làm, bảo vệ môi trường ... phải song hành với các nhu cầu của doanh nghiệp như tạo động cơ cho nhân viên, phát triển quan hệ đối tác, tạo danh tiếng và thương hiệu ... Ngoài ra, các yêu cầu về năng lực điều hành, tính minh bạch và sự tham gia của các bên liên quan cũng là những yêu cầu cho việc đảm bảo sự bền vững của dự án trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Công ty APAVE Việt Nam và Đông Nam Á đang thử nghiệm xây dựng mô hình “Trung tâm Thực nghiệm Tin học và Tiếng Anh” cho trẻ em nghèo vùng cao vùng xa có dân tộc thiểu số tại Mai Châu - Hòa Bình. Chương trình lựa chọn tác động vào điểm mấu chốt là đào tạo kỹ năng Tin học và Tiếng Anh cho trẻ em địa phương, theo phương pháp sư phạm mới, giáo trình mới, phương tiện kỹ thuật mới, được điều hành theo cách quản trị mới. Trung tâm này sẽ hoạt động tương đối độc lập nhằm đảm bảo chất lượng và kết quả đầu ra của dự án. Đó là một đội ngũ thanh thiếu niên có đủ kiến thức và kỹ năng về tin học và tiếng Anh, làm lực lượng nòng cốt, giúp cộng đồng hội nhập với thế giới bên ngoài và phát huy tiềm năng du lịch của địa phương. Dự án này được kỳ vọng là sẽ tạo ra một mô hình để có thể nhân rộng trên phạm vi vùng và toàn quốc, với sự tham gia của nhiều nhà tài trợ.

Hầu hết doanh nghiệp cho rằng họ sẵn sàng thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội nhưng làm thế nào cho có hiệu quả lại là câu trả lời đang bị bỏ ngỏ. Như vậy, vấn đề mục đích là đã rõ ràng nhưng để tạo ra phương tiện tốt cần có những đơn vị tiên phong thử nghiệm để xây dựng những mô hình khả dụng, hiệu quả và có thể nhân ra trên diện rộng đáp ứng nhu cầu của xã hội

wWw.Oxivn.com - Nguồn tin sưu tầm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Download Microsoft Office 2010 Portable Không Cần Cài Đặt

Danh bạ website